Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Những quy định chung của pháp luật về vấn đề ly hôn

Một ngày nên nghĩa là quan niệm đã ăn sâu vào tiềm thức của người phương Đông. Với quan niệm này, nhiều cặp vợ chồng đã chung sống với nhau hạnh phúc trọn đời. Nhưng những năm trở lại đây, khi mà nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, sự nhìn nhận vấn đề hôn nhân đã có nhiều thay đổi. Cùng với những tác động khác nhau, ly hôn có xu hướng tăng mạnh.



Xét về mặt xã hội, ly hôn là giải pháp để giải quyết tình trạng mâu thuẫn trầm trọng của quan hệ vợ chồng. Xét về mặt pháp lý, theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Nếu, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ kết hôn và trao cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý của vợ chồng thì ly hôn chính là một trong những sự kiện pháp lý dẫn tới việc chấm dứt quan hệ đó.

Tòa án nhân danh Nhà nước kiểm soát việc ly hôn thông qua hoạt động giải quyết các yêu cầu ly hôn. Khi giải quyết yêu cầu ly hôn, Thẩm phán sẽ dựa trên cơ sở những căn cứ ly hôn do pháp luật quy định chứ không thể dựa vào kinh nghiệm chủ quan của mình.

Căn cứ ly hôn


Nhà nước công nhận quyền tự do ly hôn không đồng nghĩa với việc giải quyết ly hôn một cách tùy tiện theo ý chí của vợ, chồng, cả hai vợ chồng hay của bất kì chủ thể nào khác.

Quan điểm của nhà nước xã hội chủ nghĩa là giải quyết ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan. Những căn cứ pháp lý về ly hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình phản ánh bản chất của hôn nhân đã tan vỡ, nghĩa là hôn nhân đã “chết”. Tòa án phải giải quyết quyền yêu cầu ly hôn trên cơ sở những dấu hiệu được quy định ở căn cứ pháp lý để xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện bản chất thực sự của tình trạng hôn nhân: quan hệ vợ chồng đã không thể tồn tại được nữa.


Như vậy, căn cứ ly hôn có thể hiểu là những tình tiết, điều kiện do pháp luật quy định mà khi có những tình tiết, điều kiện đó thì Tòa án mới ra những quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc ra bản án ly hôn. Khi nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về căn cứ ly hôn qua các thời kì cho thấy, pháp luật Việt Nam về căn cứ ly hôn qua các thời kì có những điểm khác biệt nhất định, các văn bản luật Hôn nhân và Gia đình sau đều có sự kế thừa và phát triển văn bản trước. Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã phản ánh đúng bản chất của ly hôn, quy định bao quát được các trường hợp ly hôn, nâng cao trách nhiệm của hai bên vợ chồng đối với hôn nhân, đảm bảo định hướng nhận thức cho người dân và cả người thực thi pháp luật về vấn đề ly hôn.


Hậu quả của ly hôn


Ngày này, tuy vấn đề ly hôn đã được nhìn nhận theo chiều hướng tích cực hơn nhưng những ảnh hưởng tiêu cực mà nó để lại cho gia đình và cho xã hội là không nhỏ. Việc giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn là một vấn đề mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bởi hậu quả của ly hôn không chỉ là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật mà còn bao gồm rất nhiều vấn đề khác như: chia tài sản chung của vợ chồng; giao con chưa thành niên cho một bên nuôi dưỡng, giáo dục và quyết định mức cấp dưỡng nuôi con; giải quyết việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi có yêu cầu…

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình trước, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định khá đầy đủ và cụ thể hậu quả pháp lý của ly hôn. Những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ, trẻ em. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc áp dụng các quy định này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật kết hợp với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.

Miễn trách nhiệm bồi thường do hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia gây ra

Lỗi được coi là một trong những yếu tố để xác định trách nhiệm dân sự. Lỗi này có thể là hành động hoặc không hành động của bên bị vi phạm. Về bản chất, các bên đều có hành vi vi phạm, tuy nhiên, sự vi phạm của một bên có nguyên nhân chủ yếu từ lỗi của bên bị vi phạm. Chẳng hạn, bên vi phạm đã làm theo một chỉ dẫn không rõ ràng của bên bị vi phạm dẫn đến thiệt hại. Trong trường hợp này, bên vi phạm đã được loại trừ lỗi cấu thành nên hành vi vi phạm, bên bị vi phạm sẽ chịu những rủi ro về thiệt hại này.


Ví dụ, Công ty A kí kết với công ty B hợp đồng mua bán 10 tấn vải. Theo đó, công ty A phải thanh toán đúng hạn khoản tiền bằng 30% giá trị hợp đồng để công ty B mua nguyên vật liệu sản xuất. Tuy nhiên, công ty A đã không thanh toán đúng hạn dẫn đến việc đình trệ sản xuất khiến cho việc giao hàng của công ty B bị chậm trễ.

Trong trường hợp này, nếu như trong hợp đồng không có thỏa thuận khác về việc chậm thanh toán và việc chậm thanh toán của công ty A không phải do bất khả kháng hoặc do quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì xem như công ty A đã có lỗi khiến cho công ty B không thể thực hiện đúng hợp đồng nên công ty B được miễn trách nhiệm.

Bên cạnh điểm c khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005, trường hợp miễn trách còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành thương mại khác như Điều 165 Luật Hàng không dân dụng năm 2006; Điều 78 Bộ luật Hàng hải năm 2005 quy định miễn trách đối với người vận chuyển, người vận chuyển sẽ được miễn trách khi có lỗi của người khác hoặc không do lỗi của người vận chuyển hay đối với hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ được miễn trách khi thiệt hại xảy ra đối với bên mua bảo hiểm hoàn toàn do lỗi cố ý của bên mua.



Tuy nhiên, chỉ xét tới Điều 294 Luật Thương mại 2005, điều luật này mới dự liệu miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng khi hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia mà chưa tính đến khả năng hành vi vi phạm của một bên có nguyên nhân xuất phát từ bên thứ ba, mà bên này rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định được miễn trách nhiệm.


Luật thương mại hiện hành nói chung và Điều 294 Luật thương mại nói riêng cũng chưa dự liệu trường hợp miễn trách nhiệm do một bên ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng mà bên thứ ba này vi phạm nghĩa vụ trong một số trường hợp cụ thể. So sánh với Công ước Viên về hợp đng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 79 quy định rằng nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần của hợp đồng cũng không thực hiện điều đó, thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm chiếu theo công ước được áp dụng cho họ. Có thể thấy, đây là một thực tiễn thương mại hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế mà pháp luật Việt Nam cần phải bổ sung để đảm bảo tính toàn diện và công bằng của miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Miễn trách nhiệm trong trường hợp các bên thỏa thuận đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại

“Trách nhiệm là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ nghĩa vụ phải thực hiện một công việc khi bị ràng buộc hoặc tự nguyện ràng buộc vào quan hệ pháp lý, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi. Từ đó, có thể khái quát, miễn trách nhiệm là việc loại bỏ hậu quả pháp lý bất lợi khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ được giao.


Như vậy, miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại là việc bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng thương mại không phải chịu các hình thức chế tài. Tức, về bản chất, các trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng là những trường hợp loại trừ yếu tố lỗi của bên vi phạm. Việc miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng thương mại được xem xét trên cơ sở các bên vi phạm không có lỗi khi thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng trong điều kiện nảy sinh những tình huống ngoài ý muốn.

Tuy nhiên, để được áp dụng các căn cứ miễn trách nhiệm thì bên có hành vi vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ phải chứng minh mình không có lỗi. Nếu không chứng minh được, bên vi phạm coi như có lỗi và phải chịu các chế tài do pháp luật quy định (Khoản 2 Điều 294 Luật thương mại 2005). Ngoài ra, khi xảy ra tình trạng miễn trách nhiệm hợp đồng, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay (bằng văn bản) cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và hậu quả có thể xảy ra. Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.

Điều 294 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005 quy định tất cả 4 trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Trong đó trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận là trường hợp thể hiện rõ sự tự do, bình đẳng trong thỏa thuận của các bên.


Pháp luật thương mại đề cao tính tự do trong thương mại. Do vậy, các bên được quyền tự thỏa thuận các trường hợp được miễn trách nhiệm khi giao kết hợp đồng thương mại. Thỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi hành vi vi phạm xảy ra và có hiệu lực đến thời điểm bên bị vi phạm áp dụng chế tài. Nếu thỏa thuận được hình thành sau khi có vi phạm xảy ra thì nó có ý nghĩa là bên bị vi phạm không áp dụng biện pháp chế tài đó với bên vi phạm chứ không phải là điều kiện để miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm do có thỏa thuận, bản chất của hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Khi hợp đồng được giao kết bằng văn bản, thì thỏa thuận miễn trách nhiệm được ghi nhận trong nội dung hợp đồng hoặc trong phụ lục hợp đồng. Nhưng kể cả khi hợp đồng đã ký kết các bên vẫn có thể thỏa thuận bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc sửa đổi, bổ sung vào hợp đồng các trường hợp miễn trách nhiệm. Nhưng, việc viện dẫn làm cơ sở giải quyết tranh chấp đối với các thỏa thuận miễn trách bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể rất khó khăn và thiếu tính khả thi.


Tuy nhiên, quy định này chỉ dừng ở mức chung chung, không đưa ra điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trách nhiệm hợp đồng giữa các bên. Quy định cũng chỉ mới công nhận trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng đã được các bên thỏa thuận trước mà chưa cụ thể điều kiện để được công nhận. Vì vậy, thực tiễn trong giao kết hợp đồng thương mại cho thấy ít khi các bên chấp nhận việc thỏa thuận trực tiếp và rõ ràng về các trường hợp miễn trách nhiệm, vì có thể bên vi phạm sẽ dựa vào điều này để không tuân thủ hợp đồng. Do đó, các bên có thể thỏa thuận gián tiếp miễn trách nhiệm ở một chừng mực nhất định.

Mục tiêu kinh tế vĩ mô ở Việt Nam hiện nay

Trong chỉ đạo điều hành, Chính phủ luôn dành mục tiêu ưu tiên hàng đầu để ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng ở mức hợp lý. Chính phủ đề ra mục tiêu tổng quát là: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; phục hồi nhịp độ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế và ba đột phá chiến lược, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí. Bảo đảm quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.


Tập trung cao cho ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó, kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường, bảo đảm phục hồi và nâng cao chất lượng tăng trưởng và đảm bảo tăng trưởng ở mức hợp lý. Thực hiện chính sách tiền tệ đảm bảo cung ứng vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế, đồng thời góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Tiếp tục phát triển đồng bộ và lành mạnh hóa thị trường tiền tệ, giảm dần nợ xấu thông qua việc tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng. Triển khai có hiệu quả hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Bổ sung giải pháp mới để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường nhằm tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm về giao thông, thủy lợi và bệnh viện. Sử dụng một phần thích đáng để chi đầu tư công để tham gia các dự án PPP, vốn đối ứng ODA và kinh phí giải phóng mặt bằng…

Chính phủ cũng xác định tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa phối hợp hiệu quả với chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, kiểm soát nhập siêu ở mức hợp lý. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp khuyến khích xuất khẩu...



Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, trong năm 2018, Chính phủ sẽ tiếp tục đặt kế hoạch đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%, bằng mức mục tiêu năm 2017. Tổng kim ngạch xuất nhập kế hoạch đạt 36 - 37 tỷ USD, kiểm soát nhập siêu dưới 3% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời, mục tiêu phấn đấu là đến cuối năm 2018, dư nợ công vào khoảng 63,9% GDP, nợ Chính phủ khoảng 52,5% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 47,6% GDP.


Áp lực tăng trưởng là khá lớn, vì vậy Chính phủ cần đưa ra những kế hoạch cụ thể để có thể đạt được những mục tiêu trên.

Tác động của chính sách tiền tệ trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô

Dự trữ bắt buộc


Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các Ngân hàng Thương mại có khả năng biến những khoản tiền gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho cả hệ thống, khả năng sinh ra bộ số tín dụng, tức là khả năng tạo tiền. Để khống chế khả năng này, Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng Thương mại phải trích một phần tiền huy động được theo một tỷ lệ quy định gửi vào Ngân hàng Trung ương không được hưởng lãi. Do đó cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế mức tăng bội số tín dụng của các Ngân hàng Thương mại.



Khi lạm phát cao, Ngân hàng Trung ương nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm) dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). Ngược lại, nếu Ngân hàng Trung ương hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các Ngân hàng Thương mại cũng tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền. Lý luận tương tự như trên thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng). Như vậy công cụ dự trữ bắt buộc mang tính hành chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kì quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa ổn định và khi các công cụ thị trường mở tái chiết khấu chưa đủ mạnh để có thể đảm trách điều hòa mức cung tiền cho nền kinh tế. Nhưng công cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy cảm, vì chỉ thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát.

Tái chiết khấu



Là phương thức để Ngân hàng Trung ương đưa tiền vào lưu thông, thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. Thông qua việc tái chiết khấu, Ngân hàng Trung ương đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống Ngân hàng Thương mại thực hiện việc tạo tiền, đồng thời khai thông thanh toán. Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông. Do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều hành chính sách tiền tệ. Tùy theo tình hình từng giai đoạn, tùy thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính sách nới lỏng hay thắt chặt tín dụng mà Ngân hàng Trung ương quy định lãi suất thấp hay cao. Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng thời kỳ, phải có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế của giai đoạn đó. Khi Ngân hàng Trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các Ngân hàng Thương mại cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm cầu về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi).

Hoạt động thị trường mở


Nếu như công cụ lãi suất chiết khấu là công cụ thụ động của Ngân hàng Trung ương, tức là Ngân hàng Trung ương phải nhờ Ngân hàng Thương mại đang cần vốn đưa thương phiếu, kỳ phiếu.. đến để xin “tái cấp vốn” thì nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chủ động của ngân hàng trung ương để điều khiển khối lượng tiền, qua đó kiểm soát lạm phát. Qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương chủ động phát hành tiền trung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trước hết đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ chúng ta. Khi nghiên cứu phần trước đã biết rằng khối lượng tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát, việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát.

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Điểm mới trong quy định về chấm dứt hôn nhân do một bên chết hoặc Tòa án tuyên là đã chết

Việc hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết là hậu quả tất yếu, chứng tỏ rằng hôn nhân là quan hệ nhân thân giữa hai người. Khi vợ, chồng chết, quan hệ hôn nhân đương nhiên chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng phát sinh từ khi kết hôn sẽ chấm dứt. Người vợ, chồng còn sống vẫn được hưởng các quyền lợi phát sinh từ hôn nhân với người vợ, chồng đã chết. Tuy nhiên, việc hưởng các quyền lợi như thế nào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 lại chưa có quy định cụ thể, phải dựa vào quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết.


Trường hợp vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết thì hôn nhân được coi là chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc vào ngày được ghi trong giấy báo tử. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định cụ thể về quan hệ nhân thân và tài sản mà chỉ đưa ra quy định về hậu quả của quan hệ hôn nhân khi một bên bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về tại Điều 26 của Luật này.

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có những quy định cụ thể về giải quyết vấn đề tài sản cũng như nhân thân khi một bên chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết được quy định cụ thể tại 2 Điều là Điều 66 và Điều 67.

Có thể thấy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa có quy định cụ thể về các vấn đề có liên quan đến việc chấm dứt hôn nhân do một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết mà chỉ đưa ra những trường hợp cụ thể, chung chung.



Ví dụ, trong trường hợp một bên vợ, chồng chết, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không đưa ra những giải quyết cụ thể về quyền lợi của người vợ, chồng còn sống, quan hệ nhân thân,… mà chỉ có quy định đối với tài sản chung của vợ, chồng sẽ được chia theo quy định pháp luật về thừa kế. Trường hợp không có yêu cầu của những người thừa kế chia di sản của người vợ, chồng đã chết thì bên còn sống có quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản tại khoản 2 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Việc bổ sung các quy định về giải quyết tài sản trong trường hợp một bên vợ, chồng tuyên bố là đã chết hoặc các vấn đề nhân thân và tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã giúp người có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan nhanh chóng, thuận lợi và dễ dàng hơn thay vì việc phải tìm hiểu quá nhiều các quy định trong Bộ luật Dân sự, các Nghị định, Nghị quyết hướng dẫn thi hành. Sửa đổi, thêm các quy định mới, cụ thể hơn, có tính chất tiếp thu và phát triển cũng sẽ tạo ra một cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho việc hoàn thiện chế độ Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Trình tự, thủ tục thu, nộp thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật hiện hành

Nguyên tắc khai thuế, nộp thuế


Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế.
Trường hp sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót thì được khai bổ sung, điều chỉnh hồ sơ khai thuế. Hồ sơ khai thuế bổ sung, điều chỉnh được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế.
Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định x lý về thuế sau kiểm tra, thanh tra; nếu người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp và được kiểm tra, thanh tra (liên quan đến thời kỳ, phạm vi kiểm tra, thanh tra) còn sai sót thì người nộp thuế được tự khai bổ sung, điều chỉnh; việc xử lý căn cứ chế độ quy định và nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc khai sót, chưa đúng phải điều chỉnh


Điều 17 Nghị định 83/2013 quy định về khai thuế thu nhập cá nhân như sau:
1. Khai thuế thu nhập cá nhân bao gồm: Khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm và khai theo từng lần phát sinh. 
2. Các trường hợp khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng, theo quý, theo năm và khai theo từng lần phát sinh thực hiện theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân.

Hồ sơ khai thuế là tờ khai thuế thu nhập cá nhân và tài liệu khác liên quan.

3. Khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân.

a) Hồ sơ khai quyết toán thuế đối với tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập là tờ khai quyết toán thuế và tài liệu khác liên quan;

b) Hồ sơ khai quyết toán thuế đối với cá nhân là tờ khai quyết toán thuế và tài liệu khác liên quan của cá nhân.

4. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế quy định tại Điều này.

Cách thức thực hiện như sau:

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập là cơ sở, sản xuất kinh doanh nộp hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế trực tiếp quản lý tổ chức, cá nhân

Tổ chức trả thu nhập là cơ quan trung ương; cơ quan trực thuộc Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh; cơ quan cấp Tỉnh nộp hồ sơ khai thuế tại Cục thuế nơi tổ chức đóng trụ sở

Tổ chức trả thu nhập là cơ quan thuộc, trực thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện; cơ quan cấp huyện nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục Thuế nơi tổ chức đóng trụ sở chính

Tổ chức trả thu nhập là cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục thuế nơi tổ chức đóng trụ sở chính.

Thời hạn nộp thuế: Chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp tờ khai thuế tháng, quý, quyết toán thuế.