Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

Tác động của Luật quốc tế đến quá trình hoàn thiện một số văn bản liên quan đến các lĩnh vực về biển khác

Có thể thấy, Công ước Luật biển năm 1982 đã xây dựng một khung pháp lý tương đối công bằng cho các hoạt động trên biển, mang lại nhiều điểm lợi thế cho các quốc gia đang phát triển, các quốc gia ven biển đặc biệt là đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam.



Thứ nhất, về vấn đề môi trường biển


Công ước luật biển cũng quy định về việc bảo vệ môi trường và cải thiện quản lý các tài nguyên thiên nhiên đại dương. Với quốc gia có đường bờ biển dài 3260km như Việt Nam, vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển là vấn đề luôn được Chính phủ hết sức coi trọng và đã được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý biển của Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau như: vận tải biển, dầu khí, nuôi trồng khai thác thủy hải sản và kiểm soát và tuần tra biển. Việt Nam là quốc gia đã chủ động đưa ra nhiều sáng kiến liên quan khai thác bền vững nguồn tài nguyên biển và đại dương, liên quan đến bảo vệ môi trường biển, chống nước biển dâng .

Thực tế, Việt Nam cũng đã xây dựng các văn bản luật quy định về việc bảo vệ môi trường biển, nguồn tài nguyên sinh vật… và được truyền tải chủ yếu trong Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật Hàng hải và Dự thảo Luật tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo… Trong Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã nêu rõ, phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Việt Nam đã tích cực tham gia thảo luận và ủng hộ thông qua hai Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về đại dương và về đánh cá trên biển phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững; tham gia tiến trình tham vấn không chính thức về các vấn đề đại dương và Luật biển hàng năm.

Thứ hai, về vấn đề tìm kiếm cứu nạn


Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác tìm kiếm và cứu nạn mà Công ước Luật Biển 1982 đặt ra cho các quốc gia ven biển, Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn theo quyết định số 780/TTg ngày 23 tháng 10 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ. Ủy ban có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tìm kiếm-cứu nạn người và phương tiện (tàu bay, tàu thuyền, thiết bị dầu khí…) bị lâm nạn trên không, trên biển và vùng trách nhiệm tiếp giáp giữa Việt Nam với các nước.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tham gia xây dựng nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh Hàng hải (INMARSAT), Hệ thống An toàn và Cứu nạn Hàng hải toàn cầu (GMDSS)..., đồng thời lập hệ thống đài thông tin duyên hải đáp ứng thông tin liên lạc giữa các tàu và giữa các tàu với bờ. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của Công ước về Tìm kiếm Cứu nạn và đang chuẩn bị để đàm phán với các nước liên quan về phân định vùng tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển.


Thứ ba, về vấn đề tranh chấp biển, đảo với một số nước láng giềng


Điều 4 Luật Biển Việt Nam đã thể hiện rõ chủ trương: Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế

Thực tế, Việt Nam đang kiên trì thực hiện chủ trương này và đến nay đã giải quyết được một số tranh chấp liên quan đến biển với các nước láng giềng. Cụ thể là năm 1997, Việt Nam ký Hiệp định phân định ranh giới trên biển với Thái Lan trong Vịnh Thái Lan;  năm 2000 ký Hiệp định phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ; và năm 2003 cùng Indonesia ký Hiệp định phân định thềm lục địa ở Nam Biển Đông. Việt Nam cũng đang đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đang chuẩn bị đàm phán về vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác. 


Cùng với việc ban hành Luật biển và các văn bản luật khác, với mục đích nhằm xây dựng quy chế pháp lý cho việc bảo vệ vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền, Việt Nam cũng đang nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp quy liên quan đến kinh tế biển, các luồng, tuyến giao thông hàng hải thuộc lãnh hải nước ta … nhằm đảm bảo triển khai hiệu quả các quy định của Luật, bảo vệ và phát triển kinh tế biển trên các vùng biển chủ quyền nhằm thực hiện toàn diện các chiến lược về biển của nước ta trong thời gian về sau

Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của các quốc gia trên thế giới

Mỗi quốc gia khi tham gia vào các điều ước quốc tế để tránh sự ràng buộc với một số điều khoản nhất định, họ sẽ tuyên bố bảo lưu đối với điều khoản đó. Trong quan hệ quốc tế ngày nay, các quốc gia ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế ngày một nhiều, do đó bảo lưu hoặc phản đối bảo lưu cũng tăng lên theo tỉ lệ thuận.



rất nhiều ví dụ về vấn đề bảo lưu điều ước của các quốc gia trên thế giới, mà điển hình là Nga. Nga khi gia nhập Công ước viên 1969 với tuyên bố bảo lưu khoản 3 Điều 20, khoản b Điều 45 và rằng hai điều khoản này sẽ không có hiệu lực với Nga. Bởi, Nga cho rằng hai điều khoản này không phù hợp với thực tiễn quan hệ quốc tế.

Xét trên phương diện pháp lí, bảo lưu là quyền của các chủ thể luật quốc tế, trừ những trường hợp không được bảo lưu thì việc bảo lưu một hay nhiều điều khoản và nhiều điều ước quốc tế khác nhau là không hạn định. Trung Quốc là một trong những quốc gia điển hình cho việc có nhiều tuyên bố bảo lưu một số điều của các công ước quốc tế.

Tại Công ước về phòng chống tham nhũng Trung Quốc đã tuyên bố bảo lưu khoản 2 Điều 66 quy định về giải quyết tranh chấp. Ngoài Trung Quốc, một số quốc gia khác như Cuba, các nước trong khu vực ASEAN và các nước theo hệ thống pháp luật hồi giáo cũng tuyên bố bảo lưu về thủ tục giải quyết tranh chấp với lí do: việc đưa tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước ra trọng tài hay Tòa án công lý quốc tế cần phải có sự đồng thuận của tất cả các bên liên quan đến tranh chấp.



Trong Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG): Bảo lưu theo Điều 95 quy định về việc bảo lưu không áp dụng Điều 1.1. Cụ thể Điều 1.1.b quy định sẽ áp dụng CISG khi các quy phạm tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật của một quốc gia thành viên. Theo đó thì Trung Quốc, Hoa Kỳ, Cộng hòa Séc đã thực hiện bảo lưu này. Vào thời điểm phê chuẩn Trung Quốc tuyên bố sẽ không bị ràng buộc bởi Khoản 1.b Điều 1 cũng như sẽ không bị ràng buộc bi Điều 11 và các quy định của Công ước liên quan đến Điều 11. Tuy nhiên, hiện nay ở Trung Quốc đang chứng kiến trào lưu yêu cầu Chính phủ b bảo lưu này vì nó hạn chế việc Tòa án áp dụng CISG. Điều này gây ảnh hưởng tới quá trình phổ biến áp dụng CISG tại Trung Quốc cũng như cản trở những lợi ích mà CISG có thể đem lại cho thương mại của nước này.


Ngày nay, việc bảo lưu điều ước ngày một nhiều phức tạp hơn. Điều này đòi hỏi phải có sự hoàn thiện về pháp luật quốc gia và sự cân bằng ổn định, bình đẳng giữa các quốc gia khi tham gia vào các điều ước quốc tế.

Hệ quả pháp lý của bảo lưu điều ước quốc tế

Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ghi nhận: Bảo lưu điều ước quốc tế là một tuyên bố đơn phương với bất kỳ cách diễn đạt hoặc tên gọi nào, được quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập một điều ước, nhằm qua đó loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số điều khoản nhất định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó (Theo điểm d, khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1969).



Luật quốc tế cũng thừa nhận bảo lưu là quyền của các chủ thể khi tham gia vào điều ước quốc tế nhằm phù hợp với mục đích của việc ký kết các điều ước quốc tế và đảm bảo lợi ích của các quốc gia thành viên. Quốc gia không thể bảo lưu sau khi họ chấp nhận các điều ước quốc tế, bảo lưu phải được thực hiện tại thời điểm mà điều ước chưa ảnh hưởng đến quốc gia đó.

Hệ quả pháp lý của bảo lưu điều ước quốc tế



Bản chất của bảo lưu không nhằm đưa các điều khoản bị bảo lưu ra khỏi nội dung của một điều ước nhưng về tổng thể, quan hệ giữa các thành viên của một điều ước sẽ thay đổi trong phạm vi có bảo lưu. Sự thay đổi liên quan đến bảo lưu khác nhau, tùy thuộc vào việc phản đối hoặc chấp thuận bảo lưu. Từ việc phản đối bảo lưu do một quốc gia đề ra, có thể làm cho quốc gia bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu không có quan hệ điều ước hoặc không áp dụng điều khoản bảo lưu trong quan hệ giữa hai bên, còn đối với các điều khoản còn lại, quan hệ điều ước vẫn diễn ra bình thường. Cụ thể đối với các điều khoản bị bảo lưu:

Trong quan hệ giữa các quốc gia đưa ra bảo lưu và quốc gia chấp thuận bảo lưu: Điều khoản bị bảo lưu sẽ thay đổi theo nội dung tuyên bố bảo lưu đã nêu.

Trong quan hệ giữa các quốc gia đưa ra bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu: Tùy thuộc vào sự bày tỏ của bên phản đối bảo lưu mà quan hệ điều ước giữa hai bên có thể vẫn duy trì nhưng điều khoản bị bảo lưu sẽ không được áp dụng; hoặc giữa hai bên không còn tồn tại quan hệ điều ước nếu bên phản đối bảo lưu tỏ rõ ý định này. Như điểm b khoản 4 điều 20 Công ước Viên 1969 quy định: Việc một quốc gia ký kết khác phản đối bảo lưu sẽ không cản trở điều ước có hiệu lực giữa quốc gia phản đối bảo lưu và quốc gia đề ra bảo lưu, trừ khi quốc gia phản đối bảo lưu đã bày tỏ rõ ý định ngược lại


Trong quan hệ giữa quốc gia thành viên khác: Bảo lưu không làm thay đổi các quy định của điều ước đối với các bên khác tham gia điều ước trong những quan hệ giữa họ với nhau.

Điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật hiện hành.

Ngày 25/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Kinh doanh bất động sản (gọi tắt là Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014). Luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2015, thay thế Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.



Điều 54 Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014 khẳng định: Chủ đầu tư dự án bất động sản có quyền bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai.

Về điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh được quy định tại Điều 55 như sau:

1. Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.

2. Trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do.

Ngày 10/09/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh Bất động sản. Trong đó, tại Điều 10 Nghị định số 76/2015/NĐ-CP đã quy định rõ 3 điều kiện chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai, cụ thể:


Thứ nhất, bên mua, bên thuê mua chưa nhận bàn giao nhà ở hoặc đã nhận bàn giao nhà ở có quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai cho tổ chức, cá nhân khác khi hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua chưa nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng hợp đồng có quyền chuyển nhượng tiếp hợp đồng mua bán, thuê mua cho tổ chức, cá nhân khác khi hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận chưa nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận.

Thứ ba, việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai thì phải chuyển nhượng hợp đồng theo từng căn nhà riêng lẻ hoặc từng căn hộ; đối với trường hợp hợp đồng mua bán, thuê mua nhiều căn nhà riêng lẻ hoặc nhiều căn hộ thì phải chuyển nhượng toàn bộ số căn nhà hoặc căn hộ trong hợp đồng đó.

Như vậy, điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật hiện hành phải căn cứ vào Điều 55 Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014 và Điều 10 Nghị định số 76/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh Bất động sản ngày 10/09/2015 của Chính phủ.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) được đánh giá là thành công nhất trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT (General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại). Đặc biệt, kết quả vòng Uruguay về cơ chế giải quyết tranh chấp là một tiến bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính cách mạng, là công cụ đảm bảo sự tin cậy về mặt pháp lý đối với các cam kết của các chính phủ.



Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới) là cách thức, phương pháp hoặc hoạt động của WTO để điều chỉnh các bất đồng, xung đột giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và thỏa thuận của WTO nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp


Là một bộ phận trong tổ chức và hoạt động của WTO nên hoạt động giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO phải tuân theo các nguyên tắc chung như : nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc công khai, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; nguyên tắc bảo hộ thông qua thuế quan; nguyên tắc tiếp cận thị trường, bảo hộ phòng ngừa bất trắc. Ngoài ra còn có các nguyên tắc khác, như : nguyên tắc bình đẳng giữa các nước thành viên tranh chấp; nguyên tắc bí mật; nguyên tắc đồng thuận phủ quyết; nguyên tắc đối xử ưu đãi với các nước thành viên chậm phát triển, đang phát triển;…


Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO - DSB


Việc thành lập DSB (Dispute Settlement Body -  Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO) và thông qua DSU (Dispute Settlement Understanding - Hiệp định về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO) đã tạo nền tảng, cơ sở pháp lí cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, DSB sẽ giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên theo những nguyên tắc, trình tự quy định trong DSU, đưa ra quyết định cuối cùng về tranh chấp; xây dựng, ban hành các quy định để đảm bảo việc thực hiện và giám sát thi hành thỏa thuận DSU. Việc quy định hệ thống xét xử hai cấp Ban hội thẩm (Panel) và Cơ quan phúc thẩm (Appelate Body) đã giúp DSB thực thi các chức năng của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp.


Khi nhắc đến những thành tựu của vòng đàm phán Uruguay, người ta hay nhắc tới sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT/WTO. Từ chỗ chỉ là một cơ chế mang tính lỏng lẻo, thiếu độ tin cậy, đã hình thành một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và có tính hệ thống cũng như tính chuyên nghiệp cao. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xem như một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất trong hệ thống pháp luật quốc tế, góp phần vào quá trình điều chỉnh pháp lý các hoạt động thương mại thế giới, tạo niềm tin cho các nước khi tham gia vào tự do hóa thương mại, ngăn ngừa những cuộc trả đũa thương mại đầy nguy hại, phòng ngừa tranh chấp, giúp làm cân bằng các quyền cũng như nghĩa vụ của các thành viên WTO, đảm bảo hệ thống thương mại đa phương hoạt động một cách an toàn.

Đánh giá về các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014 về Quyền yêu cầu ly hôn

Về ưu điểm




Thứ nhất, những quy định của pháp luật về quyền yêu cầu ly hôn đã thể hiện sự tiến bộ trong tư duy của các nhà làm luật về sự tự do ý chí của vợ chồng khi tình trạng hôn nhân không thể duy trì, hôn nhân không đạt được mục đích mà nó hướng tới. Nam- nữ có quyền yêu thương nhau, có quyền tự do kết hôn theo các nguyên tắc luật định thì vợ chồng cũng có quyền tự do ý chí trong việc yêu cầu ly hôn khi họ thực sự bộc lộ ý chí của sự tự nguyện, pháp luật hoàn toàn không cấm họ thực hiện quyền này mặc dù ly hôn là mặt trái của hôn nhân mà gia đình, xã hội hoàn toàn không mong muốn điều đó xảy ra

Thứ hai, sự bình đẳng của vợ chồng được thể hiện rất rõ nét trong những quy định của pháp luật về quyền yêu cầu ly hôn khi mà cả hai bên vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt người yêu cầu ly hôn là ai, điều này là hoàn toàn phù hợp với quyền công dân mà Hiến pháp đã ghi nhận.

Thứ ba, từ thực tế những trường hợp cụ thể mà pháp luật đã mở rộng thêm quyền yêu cầu ly hôn bao gồm cả cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn đối với vợ, chồng trong một số trường hợp nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với một số vấn đề vướng mắc về vấn đề giải quyết ly hôn khi mà thực tế có nhiều người vợ, chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phải chịu nạn bạo hành gia đình do chính một bên vợ, chồng gây ra mà không thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu ly hôn.

Thứ tư, việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng đã có sự hoàn thiện theo hướng tiếp thu những quy định từ các Luật Hôn nhân & Gia đình trước đó một cách phù hợp, tiến bộ nhằm thực hiện nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi thể hiện sự nhân đạo của pháp luật. Bởi cần phải xác định rằng, trong quan hệ vợ chồng, việc sinh đẻ không phải đơn thuần là việc riêng của người vợ, đó là việc chung, là trách nhiệm chung của cả hai vợ chồng. Mặt khác, sinh đẻ là chức năng xã hội của gia đình. Vì vậy, phải thấy được trách nhiệm chung đó để giải quyết vấn đề ly hôn cho thỏa đáng, hợp lý, hợp tình nhằm bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và của con cái, bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội.



Về hạn chế


Thứ nhất, việc quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng bao gồm cả trường hợp “đang nuôi con” dưới 12 tháng tuổi mà không quy định rõ cũng như chưa có văn bản nào hướng dẫn việc đang nuôi con này là nuôi con đẻ hay con nuôi, vì vậy gây ra nhiều tranh cãi

Thứ hai, quy định mở rộng về những “thân thích khác” của vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn mà không giải thích cụ thể có bao gồm cả cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, hay cha mẹ chồng, cha mẹ vợ… hay không, điều này cũng gây nhiều sự khó hiểu trong cách áp  dụng luật.

Thứ ba, việc chứng minh người vợ, chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần của vợ, chồng thì cần chứng minh ra sao khi mà tinh thần là một phạm trù mang tính hình tượng hóa?

Vì vậy, cần có những phương hướng cụ thể và khả thi để hoàn thiện được những vấn đề còn đang khúc mắc trong Luật Hôn nhân & Gia đình hiện nay.

Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo quy định của pháp luật hiện hành

Tiếp thu và hoàn thiện hơn những quy định của Luật Hôn nhân & Gia đình trước về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng thì Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014 đã có quy định rất cụ thể trường hợp này tại khoản 3 Điều 51 như sau: “3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”


Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em và xuất phát từ tính nhân đạo của pháp luật bởi phụ nữ và trẻ em là bộ phận yếu thế trong xã hội, nên thường được pháp luật và xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ. Người phụ nữ trong thời gian mang thai, sinh con hay nuôi con nhỏ, tâm lý họ không được ổn định, nhạy cảm, và dễ xúc động. Liên quan đến vấn đề sức khỏe nên họ dễ thực hiện những hành vi gây hậu quả khó lường, bởi vậy pháp luật đã dự liệu trước những trường hợp gây ảnh hưởng không xấu đến tâm lý người vợ trong giai đoạn dễ bị kích động tâm lý mà quy định mở rộng thêm về trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng.

Những quy định về hạn chế ly hôn của người chồng mang một số đặc điểm cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc hạn chế quyền ly hôn chỉ dành cho người chồng chứ không hạn chế yêu cầu ly hôn của người vợ trong mọi trường hợp. Nếu người vợ đang mang thai, đang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình yêu và trách nhiệm không còn, duy trì tình trạng hôn nhân sẽ không đảm bảo đến sức khỏe của mình, của thai nhi, hay của con nhỏ thì người vợ có thể gửi đơn đến Tòa án, và Tòa án sẽ xem xét và giải quyết theo thủ tục chung.

Thứ hai, hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng được áp dụng ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với người khác hoặc bố của đứa trẻ là ai thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền ly hôn. Điều này cho thấy trong trường hợp người chồng phát hiện vợ ngoại tình và đứa con vợ mình đang mang thai, mới sinh hay dưới 12 tháng tuổi không phải là con của mình thì vẫn bị hạn chế quyền ly hôn tức là không được quyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn.



Thứ ba, điều luật quy định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì liệu con nuôi của hai vợ chồng thì người chồng có được yêu cầu ly hôn không? Điều này vẫn còn gây bối rối trong việc giải quyết của các Tòa. Có Tòa thì không hạn chế ly hôn của người chồng khi đang nhận con nuôi, vì người vợ không bị tổn hại sức khỏe, tâm lý không bị ảnh hưởng nhiều nên người chồng có quyền yêu cầu ly hôn. Ở đây chỉ xét đến trường hợp con của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Hay Luật Hôn nhân & Gia đình mới có quy định về việc mang thai hộ, nếu người vợ vì mục đích nhân đạo, đang trong thời gian mang thai hộ hoặc đang trong thời gian sinh con hộ thì liệu  người chồng có được yêu cầu ly hôn không? Luật Hôn nhân & Gia đình mới có hiệu lực chưa có văn bản hướng dẫn các trường hợp cụ thể. Căn cứ về nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em suy ra trong trường hợp người vợ đang mang thai hộ hoặc sinh con hộ, thì người chồng vẫn bị hạn chế ly hôn.




Có thể thấy những quy định về hạn chế ly hôn trong Luật Hôn nhân & Gia đình của người chồng hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật, thực hiện nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, thể hiện và làm cụ thể chi tiết một trong nguyên tắc của luật hôn nhân và gia đình đó là nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi – một nguyên tắc mang tính toàn cầu, do đó, người chồng sẽ bị kiểm soát hạn chế ly hôn trong một số trường hợp luật đã quy định.