Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Điều kiện hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật hiện hành

Theo quy định tại Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về các điều kiện hưởng chế độ ốm đau đó là:


Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế


Theo quy định này thì bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động là điều kiện tiền đề của chế độ ốm đau. Nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam có sự nới rộng điều kiện này theo hướng bảo vệ quyền lợi của người lao động. Các trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động cũng được xem là ốm đau và thuộc đối tượng hưởng chế độ ốm đau. Tinh thần này của bảo hiểm xã hội thể hiện tính nhân văn rất lớn, đảm bảo cho người lao động được hưởng các quyền lợi khi họ không may bị ốm đau, tai nạn.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý, thông thường các trường hợp ốm đau mang tính khách quan mới trở thành điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội, vì vậy mà cũng ở quy định này, Nhà nước loại trừ trường hợp người lao động phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe của mình, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định ra khỏi đối tượng hưởng bảo hiểm.



Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.


Điều kiện để người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội ở trường hợp này không phải là việc chính người lao động ốm đau mà là con của người lao động ốm đau, cụ thể là con dưới 7 tuổi, trên độ tuổi này thì người lao động không đủ điều kiện để hưởng chế độ ốm đau. Quy định này phù hợp và mang tính tương hỗ rất cao, trẻ em dưới 7 tuổi bị ốm không thể tự chăm sóc cho mình như người trưởng thành hoặc có người chăm sóc cũng không thể bằng sự chăm sóc của cha, mẹ nên việc quy định này giúp người lao động có điều kiện chăm sóc con nhỏ tốt hơn, giúp con của người lao động mau phục hồi, từ đó tạo tâm lí yên tâm để người lao động làm việc tốt hơn.

Ở cả 2 trường hợp kể trên ngoài đáp ứng điều kiện về “nội dung” thì điều kiện về “giấy tờ” hay nói cách khác là xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền về các trường hợp ốm đau hoặc con ốm đau… mà người lao động phải nghỉ việc để được hưởng bảo hiểm xã hội là không thể thiếu. Xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền là cần thiết bởi đó như chứng cứ xác minh sự kiện bảo hiểm đã phát sinh và là căn cứ pháp lí để cơ quan bảo hiểm thanh toán bảo hiểm với các đối tượng thụ hưởng. Xác nhận y tế đó hợp lệ khi tổ chức y tế cấp giấy xác nhận được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định, điều này để hạn chế các trường hợp lạm dụng hay sử dụng những cách thức mang tính “mờ ám” để có thể được hưởng chế độ bảo hiểm khi thực tế tình trạng của họ không tới mức đáp ứng điều kiện để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.


Như vậy, khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội và thuộc một trong hai trường hợp trên thì được hưởng bảo hiểm xã hội ốm đau mà không cần phải phụ thuộc vào việc người đó đã tham gia bảo hiểm xã hội được bao lâu, luật không quy định về thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ ốm đau của người lao động điều này cũng có thể dẫn đến sự lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội của người lao động đặc biệt là với những người mắc bệnh cần điều trị lâu dài.

Thực tế những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố.

Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố của VKS trong nhiều năm qua đã có những tiến bộ. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa VKS các địa phương với cơ quan điều tra trong việc quyết định và phê chuẩn việc bắt, tạm giữ nên chất lượng bắt, tạm giữ tăng lên.


Thông qua việc thực hành công tố, nhiều Viện kiểm sát địa phương đã chú trọng việc tổng hợp vi phạm để ban hành kiến nghị, yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục vi phạm. Thực hiện sự chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát địa phương đã nâng cao trách nhiệm trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, đồng thời có biện pháp quản lý, theo dõi chặt chẽ các trường hợp quá hạn tạm giam trong giai đoạn tố tụng, kịp thời kiến nghị, yêu cầu khắc phục.

Như vậy, ngành kiểm sát đã có nhiều cố gắng, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác, đẩy nhanh tốc độ, đảm bảo đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm có hiệu quả. 

Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm an ninh quốc gia, Viện kiểm sát đã kịp thời đưa ra truy tố nhiều tội phạm nguy hiểm. Việc phát hiện và xử lý các vụ án đặc biệt nghiêm trọng có tác động lớn đến dư luận trong và ngoài nước, làm rõ âm mưu đen tối của bọn phản động hòng gây mất ổn định chính trị. 


Trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế, đã truy tố nhiều vụ án tham nhũng, buôn lậu lớn, điển hình như vụ TAMEXCO, vụ Minh Phụng – EPCO, vụ Ngân hàng Việt Hoa và một số vụ án tham nhũng xảy ra tại Đồng Tháp, Cà Mau… 

Trong lĩnh vực phòng chống tội phạm xâm phạm trật tự trị an xã hội, Viện kiểm sát tập trung giải quyết đưa ra truy tố các vụ án xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân, các vụ hiếp dâm, cờ bạc,tham gia giải quyết nhiều băng nhóm tội phạm nghiêm trọng như vụ  Nguyễn Văn Tám ở Nam Định, vụ Phạm Văn Phương ở Bà Rịa – Vũng Tàu phạm tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, vụ Bế Văn Huân phạm tội đưa hối lộ, nhận hối lộ, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng…

Nhận thức rõ mục đích yêu cầu của công tác thực hành quyền công tố không chỉ nhằm bảo đảm việc truy tố tội phạm và người phạm tội có căn cứ mà còn bảo đảm việc điều tra của các cơ quan điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật nên trong quá trình công tác, Viện kiểm sát đã chú trọng theo dõi và tập hợp các vi phạm pháp luật của cơ quan điều tra để kiến nghị, khắc phục.

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Những hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Giai đoạn truy tố là một trong các hoạt động kết thúc công tố trong cả giai đoạn điều tra. Trong trường hợp truy tố bị can, hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra kết thúc, đồng thời mở ra hoạt động truy tố trong giai đoạn xét xử.


Quyền công tố do Viện kiểm sát thực hiện gồm tổng hợp nhiều quyền năng tố tụng, trong đó có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bị can trước Tòa án là quyền đặc trưng của Viện kiểm sát. Sau khi việc điều tra kết thúc, Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra và nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Viện kiểm sát trong giai đoạn này mà không cơ quan nào khác có thể thay thế được là quyết định việc có truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hay không. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy có đủ căn cứ để truy tố bị can thì Viện kiểm sát thực hiện việc truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng theo đúng nội dung quy định tại Điều 167 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nội dung của bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng. Riêng đối với những vụ án được tiến hành theo thủ tục rút gọn thì việc truy tố bị can không phải làm bản cáo trạng. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát sẽ truy tố bị can ra trước Tòa án bằng quyết định truy tố theo Điều 323 Bộ luật Tố tụng hình sự.




Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử khi có quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nếu Viện kiểm sát không truy tố thì Tòa án không có cơ sở pháp lý để quyết định mở phiên tòa. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát xác định giới hạn xét xử của Tòa án. Việc truy tố của Viện kiểm sát kịp thời, chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền theo khoản 4 Điều 166 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phân biệt hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng hợp tác liên doanh

Khái niệm hợp đồng liên doanh không được giải thích trong Luật đầu tư 2014. Tuy nhiên có thể hiểu, hợp đồng liên doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên đầu tư Việt Nam và nước ngoài để thành lập tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Chủ thể của hợp đồng liên doanh chính là các bên đầu tư tham gia trong liên doanh và mục đích là thành lập doanh nghiệp liên doanh. Như vậy, mục đích của việc ký Hợp đồng liên doanh là để thành lập ra 1 pháp nhân để tiến hành hoạt động chung cho 2 bên liên doanh.


Sự khác nhau giữa hợp đồng liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC thể hiện ở các điểm như sau:

Về chủ thể đầu tư


Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC

+ Nhà đầu tư trong nước ký kết hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài
+ Nhà đầu tư trong nước ký kết hợp tác với nhau

Hợp đồng hợp tác liên doanh: Bắt buộc phải có sự tham gia của nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài (cá nhân, tổ chức nước ngoài)

Về bản chất pháp lý


Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC

+ Là sự thỏa thuận của các bên để tiến hành hợp tác kinh doanh với nhau, được pháp luật coi là hình thức đầu tư
+ Có hiệu lực ngay sau khi các bên ký kết hợp đồng
+ Không hình thành tổ chức kinh tế mới, không có con dấu riêng, thỏa thuận dùng con dấu riêng của một bên doanh nghiệp để tiến hành giao dịch

Hợp đồng hợp tác liên doanh

+ Không được coi là hình thức đầu tư, chỉ được coi là cơ sở pháp lý ghi nhận quan hệ đầu tư.
+ Chỉ có hiệu lực sau khi pháp nhân mới ra đời
+ Hình thành doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, áp dụng quy định của Luật Doanh nghiệp. Có con dấu riêng và tư cách pháp lý độc lập.



Về cơ sở phân chia quyền lợi và rủi ro


Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC: Dựa vào thỏa thuận trong hợp đồng

Hợp đồng hợp tác liên doanh: Dựa vào hợp đồng liên doanh và điều lệ pháp nhân mới được thành lập

Về nội dung hợp đồng


Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC

+ Hẹp hơn, mềm dẻo hơn do các bên tham gia vẫn giữ nguyên tư cách pháp lý của mình
+ Về thể thức góp vốn, phân chia lợi nhuận,…

Hợp đồng hợp tác liên doanh

+ Chặt chẽ, cụ thể hơn về cả mặt kinh doanh lẫn pháp lý.
+ Loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề, điều kiện chấm dứt, giải thể doanh nghiệp,…

Về thời hạn


Hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC: Hợp tác thời gian ngắn, sau khi hoạt động kinh doanh kết thúc thì việc hợp tác cũng hoàn thành và hợp đồng hết hiệu lực.

Hợp đồng hợp tác liên doanh: Hợp tác lâu dài, chấm dứt khi pháp nhân hoàn thành thủ tục giải thể.

Ưu và nhược điểm của hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC

Hợp đồng hợp tác kinh doanh ( sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế


Ưu điểm của hợp đồng BCC


Về thời gian, sự chuẩn bị: nhanh gọn, dễ tiến hành, thích hợp với các dự án đầu tư cần triển khai nhanh, thời hạn đầu tư ngắn. Vì các nhà đầu tư không mất thời gian xây dựng cơ sở sản xuất mới. Do không phải thành lập doanh nghiệp mới để thực hiện dự án nên thủ tục đầu tư cũng đơn giản, không tốn nhiều thời gian, chi phí (về thủ tục thành lập doanh nghiệp mới, thời gian, chi phí để vận hành doanh nghiệp khi đi vào hoạt động hay không phải tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp khi dự án đầu tư kết thúc…), quy mô dự án cũng có thể rất linh hoạt.

Ví dụ, trong thực tế, có thể thấy dự án đầu tư các khu chung cư ở các thành phố thường được hợp tác theo hình thức đầu tư của hợp đồng BCC. Vì các bên đầu tư sẽ không phải thành lập một pháp nhân mới, đồng thời ngay sau khi khu chung cư được xây xong, các bên phân chia sản phẩm, thì không cần phải tiến hành các thủ tục giải thể, mà mỗi nhà đầu tư ngay lập tức có thể bán các căn hộ của mình để thu lợi nhuận.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách pháp lý độc lập của mình để chủ động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, các bên không bị ràng buộc bởi một tổ chức nào, vậy nên mang lại cho các nhà đầu tư sự linh hoạt, tính độc lập, ít phụ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề liên quan đến dự án đầu tư. Các nhà đầu tư cũng tránh được những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình quản lí điều hành dự án đầu tư do không trở thành đồng sở hữu chủ của một tổ chức kinh tế mới nào đó.

Khả năng huy động vốn và tận dụng nguồn lực: Chủ thể của hợp đồng BCC là các nhà đầu tư, bao gồm nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, nhà đầu tư có thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Vậy nên, các nhà đầu tư có thể hỗ trợ lẫn nhau, bù đắp cho nhau những yếu điểm trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Độc lập, linh hoạt trong phân chia lợi nhuận: Vì không phải thành lập tổ chức kinh tế mới, không phụ thuộc vào điều lệ doanh nghiệp, nên các nhà đầu tư khi ký kết được lựa chọn phương án góp vốn, phân chia kết quả kinh doanh theo tỷ lệ vốn góp.


Hạn chế của hợp đồng BCC


Không có tư cách pháp nhân: Vì không thành lập một pháp nhân mới, nên dự án đầu tư sẽ gặp khó khăn khi thực hiện các hợp đồng phục vụ cho hợp đồng BCC. Bởi lẽ, không có một pháp nhân thì sẽ không có một con dấu riêng, buộc các nhà đầu tư phải lựa chọn sử dụng con dấu của một bên. Việc các nhà đầu tư cùng hợp tác nhưng sử dụng con dấu chỉ thuộc sở hữu một nhà đầu tư đưa đến rất nhiều bất cập. Ví dụ khó kiểm soát các hoạt động trên thực tế, nhất là liên quan đến chi phí, vì việc giao dịch được tiến hành dưới danh nghĩa (con dấu) của một bên. Trong trường hợp này, chi phí chỉ có thể được hạch toán vào bên được lựa chọn sử dụng danh nghĩa. Hoặc việc mượn pháp nhân có thể gây ra những rắc rối cho các bên đầu tư trong việc đối ngoại, quản lý, phân chia lợi nhuận…     

Lúc này, các bên góp vốn sẽ cảm thấy bị trói buộc khi phải phụ thuộc vào con dấu của người khác, ngược lại, bên được sử dụng con dấu thì mang nỗi lo chịu trách nhiệm của người trực tiếp đóng dấu.

Hơn nữa, việc không thành lập pháp nhân là ưu điểm trong việc phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhưng sẽ hạn chế quyền quản lý của các bên theo tỷ lệ vốn góp, cụ thể là những nhà đầu tư nhiều cũng không thể có nhiều quyền quản lý hơn so với các nhà đầu tư khác.

Pháp luật chưa có các quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên và bên thứ ba khi một bên giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong quá trình thực hiện hợp đồng BCC. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên phải sử dụng các thiết chế của hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự để giải quyết.  Đây cũng là gánh nặng rủi ro cần được dự liệu trước trong khi thực hiện hợp đồng BCC.


Việc đầu tư theo hợp đồng BCC sẽ khó thu hút đầu tư đối với những lĩnh vực còn khó khăn và cần phát triển lâu dài, chỉ thực hiện được đối với một số lĩnh vực dễ sinh lợi và sinh lợi nhanh. Đầu tư theo hợp đồng BCC thường được áp dụng để thực hiện một dự án cụ thể, nên việc quản lý, kinh doanh đối với dự án lâu dài sẽ là không phù hợp khi lựa chọn hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC.

Phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật hiện hành

Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng.


Bộ Luật Dân sự 2015 Điều 303 có quy định về phương thức xử lý tài sản bảo đảm như sau:

1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:
a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Như vậy theo quy định của pháp luật, có ba phương pháp để xử lý tài sản bảo đảm cơ bản mà các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận đó là:

Thứ nhất, bán tài sản bảo đảm


Đây là phương pháp được áp dụng nhiều nhất trên thực tế trong việc xử lý tài sản bảo đảm. Việc bán tài sản bảo đảm có thể được tiến hành trên một trong hai cơ sở là bán đấu giá hoặc bán riêng lẻ cho một hoặc một số người mua tài sản bảo đảm không trên cơ sở đấu giá. Phương pháp bán đấu giá chỉ áp dụng trong trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc khi các bên không có thỏa thuận hay không thỏa thuận được về phương thức xử lý tài sản. Vì vậy các bên có thể thỏa thuận áp dụng việc bán riêng lẻ trong tất cả các trường hợp mà pháp luật không bắt buộc phải bán đấu giá.



Thứ hai, bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm.

Phương pháp này có thể được hiểu là việc chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Điểm khác biệt giữa hai phương pháp bán tài sản bảo đảm và nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ liên quan đến bên nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm. Với trường hợp bán tài sản bảo đảm, bên nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Ngược lại đối với trường hợp nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận chuyển nhượng tài sản chính là bên nhận bảo đảm.

Thứ ba, bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba.

Có thể hiểu về bản chất đây là việc chuyển nhượng quyền đòi nợ từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm và giá trị của quyền đòi nợ có thể bù trừ với giá trị của nghĩa vụ bảo đảm.


Ngoài ra, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận bất kỳ một phương pháp xử lý tài sản bảo đảm khác. Đối với các doanh nghiệp là bên bảo đảm thì điều quan trọng hơn cả là tài sản bảo đảm cần được bán ở mức giá cao nhất hoặc hợp lý về mặt thương mại để bên bảo đảm có cơ hội nhận được tiền sau khi đã trả nợ cho bên nhận bảo đảm và thanh toán các khoản được ưu tiên khác.

Chính sách tỷ giá hối đoái - ưu và nhược điểm

Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam.


Theo Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/07/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, tại Điều 15 quy định về chế độ tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam như sau:

Thứ nhất, tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện điều tiết tỷ giá hối đoái thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ và thực hiện phương án can thiệp trên thị trường ngoại tệ.

Thứ hai, chế độ tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định trên cơ sở rổ tiền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ. Trong đó:   
 
Chính sách tỷ giá là tập hợp các biện pháp sử dụng tỷ giá như một công cụ để thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đề ra, là cách thức mà chính phủ hoặc ngân hàng trung ương sử dụng để tác động vào nội tệ và can thiệp vào thị trường ngoại hối.

Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi là chế độ tỷ giá hối đoái sẽ được vận dụng và xác định một cách tự do theo quy luật thị trường (quy luật cung - cầu trên thị trường ngoại tệ.). Đặc trưng cơ bản của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi chính là:

+ Tỷ giá hối đoái hoàn toàn phụ thuộc vào sự biến động của cung và cầu ngoại tệ trên thị trường.
+ Ngân hàng trung ương không quản lý thị trường ngoại tệ mà chỉ tham gia vào thị trường ngoại hối như một chủ thể tham gia các giao dịch về ngoại hối thông thường.


Ưu điểm của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi


Một là, dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, cán cân thanh toán sẽ tự cân bằng. Trong trường hợp tài khoản vãng lai thâm hụt, đồng nội tệ giảm giá làm cho xuất khẩu tăng lên và nhập khẩu giảm xuống cho tới khi cán cân thanh toán trở về vị trí cân bằng. Còn trong trường hợp ngược lại, khi tài khoản vãng lai thặng dư, đồng nội địa sẽ lên giá làm cho nhập khẩu tăng và xuất khẩu giảm xuống cho tới khi cán cân thanh toán trở về trạng thái cân bằng.

Hai là, nền kinh tế có thể chống lại những cú sốc giá cả từ bên ngoài. Sự gia tăng của lạm phát nước ngoài sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái thay đổi phù hợp với quy luật ngang giá sức mua.

Nhược điểm của chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi


Một là, việc thả nổi tỷ giá hối đoái khiến cho thị trường ngoại hối có thể phát sinh thêm rất nhiều rủi ro.

Hai là, việc dự báo sự thay đổi của tỷ giá hối đoái là khó xác định do thị trường vận động, biến thiên không ngừng nên dễ dẫn đến việc có lúc người dân ồ ạt thực hiện đầu cơ ngoại tệ làm cho tỷ giá hối đoái biến động mạnh, gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách tiền tệ và kinh tế của quốc gia. Chính phủ chỉ can thiệp vào thị trường khi tỷ giá có những biến động mạnh.


Ở Việt Nam, chế độ tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.